Ảnh hưởng dịch Covid-19 đến hệ thống ngân hàng VN

Dịch Covid-19 kéo dài và nhiều tỉnh thành phải áp dụng biện pháp giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đang khiến toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngành tài chính ngân hàng cũng không nằm ngoài “cơn bão” này, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của ngành thường có độ trễ hơn so với các lĩnh vực khác.

Tổng Cục Thuế - Bộ Tài Chính - Chi tiết tin

Nền kinh tế hậu ảnh hưởng covid-19 : Các xu hướng chính ngành dịch vụ tài chính

Các kết quả từ báo cáo cho thấy tuy đại dịch covid-19 đã và đang có ảnh hưởng nghiệm trọng tới nhiều ngành công nghiệp, tác động tới ngành dịch vụ tài chính vẫn còn khá hạn chế và bao gồm cả tác động tiêu cực lẫn tích cực. Doanh thu từ giao dịch tự doanh tăng cao hơn nhờ biến động thị trường đã thúc đẩy hoạt động kinh doanh trên thị trường vốn. Các công ty bảo hiểm cũng hưởng lợi từ việc người tiêu dùng được khuyến cáo hạn chế đi lại, nhờ đó giảm tần suất yêu cầu bồi thường ở các mảng dịch vụ cá nhân. Đối với ngân hàng, các ưu đãi của ngân hàng trung ương và hỗ trợ của chính phủ đối với doanh nghiệp và cá nhân, tính đến thời điểm này, đã hạn chế thiệt hại tới bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Tại Việt Nam, có thể kể đến các biện pháp kịp thời của chính phủ như giãn, giảm thuế và gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất theo nghị định 41, và quyết định của Ngân Hàng Nhà Nước cho phép điều chỉnh lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi hỗ trợ các khách hàng bị ảnh hưởng bởi COVID-19. Điều này giúp ngăn ngừa hiệu ứng domino như đã từng xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Tuy nhiên, các phân tích cũng chỉ ra rằng ngành dịch vụ tài chính sẽ chịu tác động nặng nề nhất từ các hiệu ứng bậc hai (second-order effects). Cụ thể là chất lượng tín dụng của khách hàng ngày càng suy giảm, cùng với môi trường lãi suất thấp tiếp tục được duy trì khi hậu quả của đại dịch dần bộc lộ trong toàn bộ nền kinh tế trong vài năm tới.

Mặc dù mức độ ảnh hưởng đối với các mảng của dịch vụ tài chính có thể khác nhau, khi covid-19 bùng phát, ngành dịch vụ tài chính cũng không đứng ngoài những xu hướng chuyển đổi tất yếu để đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục và ưu tiên tính hiệu quả. Các xu hướng đã bắt đầu phát triển nhanh chóng, và sẽ xuất hiện những kịch bản mới. Sự chuyển đổi sang kỹ thuật số được đẩy mạnh trong thời kỳ nhiều gián đoạn này. Báo cáo lập luận rằng sự kết hợp giữa việc giữ lãi suất thấp và sự gia tăng các công ty chỉ hoạt động trên nền tảng số sẽ khiến biên lợi nhuận bị thắt chặt hơn, do đó nhấn mạnh nhu cầu số hóa nhanh chóng để đạt hiệu quả chi phí và lợi nhuận nhờ nâng cao năng suất. Khi nền công nghiệp ngày một dựa trên nền tảng và hệ sinh thái, bao gồm tương tác với khách hàng ngày càng được số hóa, sẽ tạo ra một loạt những thách thức lẫn cơ hội mới cho ngành.

Các xu hướng chính ảnh hưởng đến tổng thể ngành tài chính ngân hàng Việt Nam hậu covid-19

  • Lãi suất thấp sẽ tiếp tục tác động mạnh tới tỉ suất lợi nhuận và mô hình kinh doanh.
  • Suy thoái do đại dịch covid-19 và sự suy giảm giá trị tài sản sẽ làm giảm khả năng chịu rủi ro đối với các lĩnh vực do Nhà nước quản chế để hỗ trợ nền kinh tế khi bước vào giai đoạn phục hồi trong năm tới.
  • Các đơn vị cấp vốn phi truyền thống sẽ có vai trò ngày một quan trọng trong hệ thống tài chính toàn cầu.
  • Đại dịch covid-19 sẽ không trì hoãn và thậm chí có thể thúc đẩy việc triển khai các biện pháp quản lý hiện thời hoặc đang được dự kiến tại nhiều quốc gia và khu vực.
  • Tình trạng đảo ngược của toàn cầu hóa sẽ tiếp tục điều chỉnh quy mô của các tổ chức tài chính ngân hàng tương ứng và tăng trưởng GDP của quốc gia sở tại, trong khi đó việc duy trì đặt trong sản xuất hoạt động ra nước ngoài (offshoring) sẽ làm tăng rủi ro hoạt động trong toàn ngành.
  • Các công ty liên tục đối mặt với áp lực tăng năng suất thông qua việc số hóa hoạt động kinh doanh và lực lượng lao động.
  • Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, việc chuyển hướng của ngành dịch vụ tài chính ngân hàng sang hoạt động dựa trên nền tảng và hệ sinh thái sẽ tạo ra một làn sóng mới, giảm bớt trung gian và tạo đột phá.

Thị trường tài chính, ngân hàng chịu ảnh hưởng bởi hệ lụy từ đại dịch covid-19

Đại dịch buộc các NHTM phải tăng cường kiểm soát rủi ro nợ xấu

Hiện nay các NHTM cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Do dịch bệnh covid-19, nhiều doanh nghiệp không trả được nợ, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu gia tăng, ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của hệ thống NHTM. Vì vậy, không chỉ ảnh hưởng về cầu tín dụng, dịch covid-19 cũng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng tín dụng. Tính đến hết quý III/2020 nợ xấu tại 17 ngân hàng niêm yết ở mức hơn 97.280 tỷ đồng, tăng 31% so với cuối năm 2019 và tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống NHTM cũng tăng lên mức 2,14% từ mức 1,8% tại thời điểm cuối quý II.

Thực hiện Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, các ngân hàng tích cực triển khai cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ để hỗ trợ doanh nghiệp. Vì vậy, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm vào quý IV/2020, nhưng chưa thể chủ quan bởi nợ xấu ngân hàng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Theo Vụ Tín dụng, đến cuối năm 2020, các NHTM đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khoảng 200 nghìn khách hàng với dư nợ khoảng 355 nghìn tỷ đồng. Trong tổng dư nợ là 8,5 triệu tỷ đồng, thì nợ xấu tiềm ẩn từ nợ cơ cấu là 4%; nếu 50% số nợ cơ cấu quay lại nợ tốt, nhưng như thế tỷ lệ nợ xấu cũng khoảng 2%, cộng với tỷ lệ nợ xấu nội bảng hiện tại là hơn 2%, thì nợ xấu lên tới 4%; đây sẽ là khó khăn, thách thức rất lớn đối với các ngân hàng trong năm 2021. Như vậy, nợ xấu hiện nay của các ngân hàng chưa phản ánh hết được thực tế do khá nhiều khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư số 01/2020/TT-NHNN, nhưng về bản chất đã là nợ xấu.

Cùng với đó, nhiều doanh nghiệp đã phát sinh nợ quá hạn, không đủ điều kiện để các NHTM thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ theo Thông tư số 01/2020/ TT-NHNN nhưng vẫn liên tục kiến nghị, tạo áp lực cho các NHTM.

Không chỉ đến cuối năm 2020, thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng mới được xác định tăng lên so với cuối năm 2019, mà ngay từ giữa năm, ngày 27/7/2020, Ban chỉ đạo cơ cấu lại hệ thống ngân hàng đã họp đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14, ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và Quyết định số 1058/QĐ-TTg, ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”. Qua đó, toàn hệ thống ngân hàng đã xử lý được 557.000 tỷ đồng nợ xấu, trong đó các tổ chức tín dụng tự xử lý được trên 76%, giúp giảm tỷ lệ nợ xấu nội bảng xuống còn 1,63%, tỷ lệ nợ xấu nội bảng kể cả nợ bán cho VAMC và nợ tiềm ẩn ở mức khoảng 4,43%, giảm mạnh so với mức 10,08% trước đây [6].

Bên cạnh đó, thừa vốn là thực trạng của nhiều ngân hàng trong năm 2020, khi những ảnh hưởng của đại dịch covid-19 đã thúc đẩy dòng vốn chảy mạnh vào ngân hàng như một kênh đầu tư an toàn, trong khi nhu cầu vay vốn suy yếu trầm trọng. Số liệu cập nhật đến ngày 24/11/2020, huy động vốn tăng 10,65% so với đầu năm 2020, tín dụng tăng 7,93% và tổng phương tiện thanh toán tăng 10,31%. Như vậy, chênh lệch giữa tăng trưởng huy động vốn và tín dụng tiếp tục được mở rộng thêm, từ mức 2,58% vào tháng 9/2020 lên 2,72% vào tháng 11/2020, bất chấp tốc độ tăng trưởng tín dụng đã có sự cải thiện đáng kể từ đầu tháng 10/2020 đến cuối năm.

Giải pháp ổn định thị trường tài chính, ngân hàng thời kỳ hậu covid-19 ảnh hưởng 

Ngành Ngân hàng chung tay hỗ trợ công tác phòng chống COVID-19

Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ của Ngành Ngân hàng trong công cuộc phòng, chống dịch Covid-19

Để chuẩn bị cho thời kỳ trong và hậu covid-19, góp phần phục hồi nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới, tác giả đưa ra một số khuyến nghị như sau:

Một là, trong giai đoạn hiện nay, vai trò chủ yếu của NHNN là đưa ra chính sách tiền tệ đảm bảo hệ thống tài chính vận hành thông suốt, duy trì khả năng thanh khoản của các tổ chức tài chính, hỗ trợ khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (giải ngân vốn dự án) cần tham mưu Chính phủ có các biện pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp, các giải pháp dân sinh thời kỳ trong và hậu covid-19. Mặt khác, NHNN tiếp tục thường xuyên nghiên cứu, dự báo, đánh giá tác động của dịch bệnh đối với nền kinh tế; bám sát diễn biến thị trường để cập nhật, điều chỉnh các kịch bản điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng; chủ động điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ, điều tiết nghiệp vụ thị trường mở với kỳ hạn, khối lượng, lãi suất hợp lý và chuẩn bị các phương án hỗ trợ khi cần thiết để đảm bảo thanh khoản thị trường thông suốt, cung ứng vốn kịp thời, giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra của Chính phủ.

Ngày 24/8/2021, tại Hà Nội, Ngân hàng Thế giới công bố Báo cáo Điểm lại cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam ấn bản tháng 8/2021. Theo báo cáo, trong tháng 7, doanh số bán lẻ giảm 19,8% so cùng kỳ năm trước, là mức giảm lớn nhất kể từ tháng 4/2020, trong khi Chỉ số sức mua hàng (PMI) cũng giảm đáng kể. Các chuỗi cung ứng và các khu công nghiệp bị gián đoạn do đại dịch covid-19 tái bùng phát diện rộng đã buộc các đơn vị xuất khẩu phải tạm thời đóng cửa nhà máy hoặc đình hoãn sản xuất… Báo cáo nhận định, GDP Việt Nam dự kiến tăng trưởng khoảng 4,8% cho cả năm 2021, dự báo này thấp hơn hai điểm phần trăm so với dự báo do Ngân hàng Thế giới đưa ra vào tháng 12/2020, có xét đến tác động tiêu cực của các đợt dịch covid-19 đến hoạt động kinh tế. Do vậy, nước ta sẽ phải đương đầu với các chỉ số tài chính “ốm yếu” thời gian tới, do đó, các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, NHNN là cần thiết sao cho không bị đổ vỡ hệ thống tài chính, ngân hàng với những hệ lụy trên.

Hai là, các NHTM tiếp tục chủ động cân đối, đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian xét duyệt hồ sơ vay vốn, nâng cao khả năng tiếp cận vốn vay của khách hàng; căn cứ tình hình thực tiễn để kịp thời áp dụng các biện pháp hỗ trợ như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí đối với khách hàng khó khăn. Nhiều doanh nghiệp bị ảnh hưởng từ đại dịch covid-19 đang phải đối mặt với việc sụt giảm nguồn thu để bù đắp cho các chi phí khác hay hoạt động sản xuất kinh doanh vận hành dưới mức bình thường. Bên cạnh đó, 43,4% doanh nghiệp trong số này gặp khó khăn do không có nguồn thu; 39,4% không thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh, chẳng hạn, phải đóng cửa trường học, cơ sở sản xuất kinh doanh theo quy định để phòng, chống dịch. Ngoài ra, 31,2% doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa sản xuất trong nước; 17,20% không xuất khẩu được. Các vấn đề về thiếu hụt vốn, thiếu hụt nguyên liệu sản xuất cũng là một khó khăn lớn, đặc biệt nguồn nguyên liệu từ nhập khẩu.

Ba là, theo Quyết định số 32/2020/QĐ-TTg ngày 19/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; trên tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, các bộ, ban, ngành đã khẩn trương nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể trong từng lĩnh vực mà mình phụ trách, các NHTM tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp kết hợp Tổng cục Thuế gia hạn nộp thuế và tiền thuê đất cho đối tượng chịu ảnh hưởng bởi dịch; miễn, giảm thuế, phí, lệ phí cho các đối tượng bị ảnh hưởng, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội. Các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội đối với các đối tượng bị ảnh hưởng bởi đại dịch, không tính lãi phạt chậm nộp theo thẩm quyền và quy định của pháp luật; xem xét thời điểm đóng phí công đoàn phù hợp, góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức.

Bốn là, cơ quan chức năng cần tiếp tục hỗ trợ thị trường chứng khoán, củng cố niềm tin cho các bên tham gia thị trường. Theo đó, cần có hướng dẫn, quy định để cụ thể hóa nhiệm vụ theo cơ chế tác động san sẻ rủi ro giữa các thành phần kinh tế. Ðiều đó sẽ tạo cơ sở cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và nhà đầu tư tin vào nội lực của nền kinh tế, vào các giải pháp của Chính phủ cũng như sức bền của thị trường.

Năm là, tích cực, chủ động tháo gỡ các rào cản, đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong đại dịch, thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam bị ảnh hưởng lớn. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tổng số vốn FDI đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/7/2021 đạt 16,7 tỷ USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận khía cạnh tích cực từ bối cảnh hiện tại, khi Việt Nam vẫn đang được coi là đất nước an toàn. Một số nhà đầu tư vẫn chuyển hướng đầu tư sang Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2021, Việt Nam vẫn thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào một số dự án lớn như: Dự án nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore); dự án nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản); dự án LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc)…

Sáu là, các NHTM phát huy tối đa các kênh thanh toán, dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, người dân thực hiện dịch vụ liên kết với Bảo hiểm xã hội như tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn, thanh toán phí điện, nước bên cạnh việc Chính phủ chỉ đạo không tăng chi phí điện, nước và rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Đây cũng là những chính sách rất cần thiết giúp giảm chi phí hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khắc phục những hậu quả do đại dịch covid-19 gây ra.

Bảy là, kinh tế Việt Nam đang đứng trước một đợt suy giảm lớn sau khi dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, xuất phát từ một nguyên nhân phi kinh tế. Trong bối cảnh này, các NHTM cần thực hiện nhanh, nhạy, đúng các chính sách điều hành vĩ mô của Chính phủ và NHNN có ảnh hưởng quan trọng tới sức đề kháng của nền kinh tế, giảm thiểu các tác động tiêu cực của dịch bệnh để lại. Đặc biệt, các chính sách hỗ trợ vốn là yếu tố quyết định nền kinh tế có khả năng phục hồi nhanh chóng hay không một khi bệnh dịch đã được kiểm soát. Phân tích được tác động của dịch bệnh tới các ngành kinh tế có sự khác biệt rất lớn để kiến nghị với NHNN.

Tóm là về tình hình dịch covid-19, kiểm định lại tính hiệu quả của các chính sách đã xây dựng về quản trị rủi ro, trong đó có rủi ro hoạt động. Đây là cơ hội tốt để các tổ chức tín dụng đánh giá quy trình hoạt động và hệ thống nhân sự hiện tại có vận hành hiệu quả không, có chỗ nào có thể điều chỉnh để tối ưu hóa. Các tổ chức tín dụng cũng xác định được nhân sự tốt và nhân sự có thể cắt giảm, từ đó tối ưu hóa được chi phí hoạt động. Ngoài ra, dịch bệnh còn là thời cơ giúp lãnh đạo các tổ chức tín dụng nhìn nhận lại các chính sách đối phó với các loại rủi ro, chủ động điều chỉnh hoặc xây dựng lại các kịch bản có thể gặp phải, từ đó hình thành các phương án đối phó hiệu quả hơn hậu covid-19.

Đăng ký tư vấn
1Thông tin liên lạc
2Thông tin cá nhân
3Lựa chọn khoản vay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *