Bond (trái phiếu) là gì?

Trái phiếu (tiếng Anh: Bond) là một loại chứng khoán nợ. Trái phiếu (Bond) có các đặc điểm và cách thức phân loại cần biết.

Bond là gì?

Bond (trái phiếu) là một loại chứng khoán/công cụ nợ, quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay tiền) phải trả cho người nắm giữ trái phiếu (Bond)(người cho vay) 1 khoản tiền cụ thể, trong khoảng thời gian được định trước và hoàn trả vốn gốc cho vay vào ngày đáo hạn.

Người đi vay gọi là người phát hành, còn người cho vay gọi là chủ nợ hay trái chủ.

Trái phiếu (Bond) là chứng chỉ nợ có lãi hay được chiết khấu, trả lãi suất cố định suốt thời hạn nợ, do đó được gọi là chứng khoán thu nhập cố định.

Công ty phát hành bị buộc bởi bản thỏa thuận viết tay (bản giao kèo trái phiếu (Bond) trả cho chủ sở hữu số tiền nhất định, thường là sáu tháng nhưng đôi khi là đến ngày đáo hạn, như trường hợp trái phiếu (Bond) không có lãi (ZERO – COUPON BONDS), và theo mệnh giá, của chứng chỉ đến ngày đáo hạn.

Các trái phiếu (Bond) là các khoản nợ dài hạn, nghĩa là chúng có kỳ đáo hạn năm năm, và thường là mười năm hoặc lâu hơn. 

Phân loại trái phiếu

Phân loại theo chủ thể phát hành

– Trái phiếu Chính phủ: 

Là một loại chứng khoán do Chính phủ phát hành nhằm mục đích hui động vốn trung và dài hạn cho chính phủ. Nguồn thu từ trái phiếu có thể được sử dụng để bù đắp thiếu hụt tạm thời cho ngân sách nhà nước, dùng để thực hiện dự án công trình quốc gia hoặc tài trợ cho các mục đích khác của Chính phủ theo kế hoạch phân bổ ngân sách từng năm.

Trái phiếu Chính phủ Việt Nam có ba loại: Tín phiếu Kho bạc, Trái phiếu Kho bạc và Công trái xây dựng Tổ quốc.

– Trái phiếu Chính quyền địa phương

Là loại trái phiếu (Bond) do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phát hành nhằm hui động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương.

– Trái phiếu (Bond) được Chính phủ bảo lãnh

Là loại trái phiếu (Bond) do danh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của Nhà nước thuộc đối tượng được qui định tại Luật quản lí nợ công phát hành và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.

– Trái phiếu (Bond) doanh nghiệp.

Là loại chứng khoán nợ được phát hành bởi các công ty hoặc các định chế tài chính có nhu cầu hui động vốn cho hoạt động kinh doanh.

Phân loại theo phương thức đảm bảo

– Trái phiếu (Bond) có đảm bảo: Là loại trái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành hoặc tài sản của bên thứ ba, hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tín dụng có chức năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán.

– Trái phiếu không có đảm bảo: Là trái phiếu khi phát hành không có kèm tài sản đảm bảo hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà chủ yếu dựa vào uy tín và thương hiệu của chủ thể phát hành.

Phân loại theo các điều kiện kèm theo

 Trái phiếu chuyển đổi: Là loại trái phiếu do công ty cổ phần phát hành, cho phép người sở hữu trái phiếu (Bond) có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường của doanh nghiệp phát hành theo những điều kiện đã được xác định trong phương án phát hành trái phiếu.

 Trái phiếu có thể mua lại hay còn gọi là trái phiếu thu hồi: Là loại trái phiếu (Bond) được phát hành với điều khoản cho phép người phát hành có thể mua lại toàn bộ hay một phần những trái phiếu đã phát hành trước ngày đáo hạn với một mức giá nhất định vào một ngày qui định.

Đặc điểm của trái phiếu ( Bond)

Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn có Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương.

Bất cứ doanh nghiệp hoặc cá nhân nào cũng có thể mua trái phiếu, kể cả chính phủ. Những loại trái phiếu (Bond) có ghi tên của trái chỉ được gọi là trái phiếu ghi danh, còn ngược lại thì được gọi là trái phiếu vô danh.

Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của chủ thể phát hành trái phiếu. Khác với người mua cổ phiếu là người Chủ sở hữu Công ty.

Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định thường kỳ và không phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành.

Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trước hết Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếu trước, sau đó mới chia cho các Cổ đông.

Với những đặc điểm trên, trên phương diện nhà đầu tư thì trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu. Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng.

  • Chủ thể phát hành trái phiếu có thể là công ty, Chính phủ, Chính quyền địa phương hay một tổ chức nào đó.
  • Mối quan hệ giữa người phát hành và người sở hữu trái phiếu là mối quan hệ con nợ – chủ nợ, chính vì thế trái chủ không có quyền tham gia vào bất kỳ vấn đề hoạt động nào của doanh nghiệp, điều này trái ngược với cổ đông sở hữu cổ phiếu của công ty.
  • Thu nhập của trái chủ là các khoản lợi tức cố định, không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Nếu doanh nghiệp phá sản chủ trái phiếu sẽ được ưu tiên thanh toán trước rồi mới đến cổ đông.

Các yếu tố cơ bản của một trái phiếu

trai-phieu-ngan-hang-1824

  • Mệnh giá (Face value hay Par value)

Là giá trị danh nghĩa của trái phiếu (Bond), được in ngay trên mỗi tờ trái phiếu. Mệnh giá đại diện cho số tiền mà người phát hành sẽ phải trả cho trái chủ khi đáo hạn. Mệnh giá cũng là cơ sở để tính lợi tức phải trả hằng kỳ cho trái chủ.

  • Lãi suất danh nghĩa (coupon interest rate)

Lãi suất quy định mức lợi tức mà nhà đầu tư được nhận mỗi kỳ tính trên mệnh giá. Thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất danh nghĩa càng cao hoặc rủi ro đến từ nhà phát hành càng lớn thì lãi suất càng cao.

  • Kỳ trả lãi

Khoảng thời gian mà người phát hành trả lợi tức cho người nắm giữ trái phiếu (Bond). Lãi suất trái phiếu thường tính theo năm, nhưng kỳ trả lãi thường là 1 năm 1 lần hoặc 6 tháng 1 lần.

  • Thời gian đáo hạn: là thời gian mà trái chủ được nhận lại vốn gốc
  • Giá phát hành trái phiếu (Issued price)

Là giá bán ra của trái phiếu (Bond) tại thời điểm phát hành. Giá này có thể bằng với mệnh giá (ngang giá), cao hơn mệnh giá (giá gia tăng) và thấp hơn mệnh giá (giá chiết khấu). Giá này sẽ thay đổi khi các trái chủ thực hiện việc mua bán trao đổi trên thị trường và phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. Dù giá phát hành là bao nhiêu thì lợi tức trả cho trái chủ vẫn được tính trên mệnh giá và khi đáo hạn, người phát hành cũng phải trả số tiền bằng đúng mệnh giá cho trái chủ.

Quy trình nhà đầu tư nhận lợi tức và hoạt động mua bán trái phiếu ( Bond) trên thị trường

Bond

Các ví dụ dưới đây sẽ giúp các bạn dễ hình dung hơn hoạt động đầu tư vào trái phiếu (Bond) diễn ra như thế nào.

Ví dụ 1: nhà đầu tư A mua trái phiếu (Bond) và giữ đến hết thời gian đáo hạn.

Một doanh nghiệp phát hành trái phiếu (Bond) với các thông tin sau

  • Mệnh giá; 100,000 VND
  • Lãi suất danh nghĩa: 12%/1 năm
  • Kỳ trả lãi: 1 năm
  • Thời gian đáo hạn: 5 năm
  • Giá phát hành: 90,000 VND

Để đơn giản, chúng ta sẽ tính dòng tiền mà nhà đầu tư này nhận được trên 1 trái phiếu (Bond)

Tại thời điểm mua trái phiếu, nhà đầu tư này phải bỏ ra số tiền là 90,000 VND. Sau năm đầu tiên, lợi tức nhận được trên 1 trái phiếu là 12,000 VND và nhận liên tiếp trong vòng 4 năm. Đến cuối năm thứ 5, số tiền mà nhà đầu tư nhận được là 112,000 VND (12,000 VND tiền lãi và 100,000 VND mệnh giá)

Với việc mua trái phiếu này, nhà đầu tư A có lợi nhuận 70,000 VND /1 trái phiếu (Bond) trong vòng 5 năm.

Ví dụ 2: nhà đầu tư A mua trái phiếu (Bond) và chỉ giữ đến một vài kỳ trong thời gian đáo hạn.

Các thông tin về trái phiếu giống như ví dụ 1. Nhưng nhà đầu tư chỉ giữ đến cuối năm thứ 2 và sau đó bán lại cho một nhà đầu tư B. Nhưng hiện nay, giá trái phiếu này trên thị trường đã giảm xuống còn 85,000 VND/1 trái phiếu (Bond). Chính vì thế, nhà đầu tư B chỉ trả 85,000 VND thay vì 90,000 VND như lúc mà nhà đầu tư A phải trả cho trái phiếu này.

  • Dòng tiền của nhà đầu tư A: vì chỉ giữ trái phiếu đến cuối năm thứ 2, nên chỉ nhận được lợi tức ở năm 1 và lợi tức năm 2, cộng thêm số tiền 85,000 VND nhận được từ việc bán trái phiếu, người này sẽ không nhận được mệnh giá vì không nắm giữ đến đáo hạn. Lợi nhuận mà nhà đầu tư A có được là 19,000 VND/1 trái phiếu trong vòng 2 năm.

  • Dòng tiền của nhà đầu tư B: tại đầu năm 3, nhà đầu tư B bỏ ra số tiền 85,000 VND để mua lại 1 trái phiếu (Bond) từ nhà đầu tư A. Cuối năm 3, người này nhận được lợi tức 12,000 VND, tương tự cho năm 4. Đến cuối năm 5, nhà đầu tư B sẽ nhận được tổng cộng 112,000 VND, trong đó có 12,000 VND là lãi suất và 100,000 là mệnh giá mà doanh nghiệp trả cho người nắm giữ khi đáo hạn. Với việc mua lại trái phiếu (Bond) từ nhà đầu tư A, người này thu được lợi nhuận là 51,000 VND/1 trái phiếu, trong vòng 3 năm

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu (bond)

Qua 2 ví dụ, các bạn có thể thấy được giá phát hành trái phiếu chỉ được áp dụng duy nhất vào ngày mà trái phiếu được phát hành, khi trái phiếu được lưu thông trên thị trường, thì giá của trái phiếu sẽ thay đổi và phụ thuộc vào quy luật cung cầu, chính vì thế các yếu tố làm thay đổi giá trái phiếu cũng là các yếu tố làm thay đổi cung cầu:

  • Lãi suất thị trường: dòng vốn thường có xu hướng đổ về nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn hay lãi suất cao hơn. Ví dụ: lãi suất tiền gửi của của ngân hàng cao hơn so với lãi suất trái phiếu, thì nhà đầu tư sẽ đem tiền gửi vào các ngân hàng thay vì đầu tư vào trái phiếu, điều này làm cho giá trái phiếu giảm.

  • Dự kiến về lạm phát: nếu lạm phát dự kiến sẽ tăng trong tương lai, có nghĩa là lợi tức trái phiếu (Bond) theo danh nghĩa sẽ bị giảm về giá trị, điều này làm cho giá trái phiếu (Bond) giảm vì lượng cầu trái phiếu sẽ giảm đi. Chính vì thế, các trái phiếu này đòi hỏi phải được tăng lãi suất để bù đắp thiệt hại cho những người nắm giữ chúng trong tương lai
  • Tỷ giá hối đoái: yếu tố này ảnh hưởng đến giá của các trái phiếu (Bond) được thanh toán bằng ngoại tệ, ví dụ: đồng USD tăng giá so với GBP thì giá của các trái phiếu thanh toán bằng USD sẽ tăng so với GBP.
  • Khả năng tài chính của nhà phát hành: khi đầu tư vào trái phiếu (Bond), trái chủ sẽ quan tâm đến khả năng thanh toán lãi suất và mệnh giá khi đáo hạn, nhưng nếu tình hình tài chính của nhà phát hành bất ổn thì làm cho giá trái phiếu sẽ giảm xuống

Thời gian đáo hạn của trái phiếu: một trái phiếu (Bond) có thời gian đáo hạn càng gần thì giá của nó trên thị trường càng tăng do độ rủi ro càng thấp, ví dụ: một trái phiếu có thời gian đáo hạn là 10 năm, nếu bỏ qua các biến động về khả năng tài chính của đơn vị phát hành và bỏ qua tác động của lãi suất thì giá trái phiếu kể từ năm thứ 5 trở đi sẽ có khuynh hướng cao hơn giá trái phiếu ở những năm đầu tiên

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *