Lịch sử hình thành ngân hàng Việt Nam

Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, Lịch sử hình thành ngân hàng Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Khái niệm Ngân hàng 

Ngân hàng nào có tốc độ tăng nợ xấu cao nhất ngành?

Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính chấp nhận tiền gửi và định kênh những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn.

NH là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn.

Do ảnh hưởng của chúng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế, các Ngân hàng bị quy định cao tại hầu hết các nước.

Hầu hết các Ngân Hàng hoạt động theo một hệ thống được gọi là hoạt động ngân hàng dự trữ phân đoạn mà họ chỉ nắm giữ một dự trữ nhỏ của các khoản tiền gửi và cho vay phần còn lại để kiếm lời.

Điều này nói chung là tùy thuộc vào các yêu cầu vốn tối thiểu được dựa trên một bộ tiêu chuẩn quốc tế về vốn, được gọi là Hiệp ước vốn Basel.

Hoạt động Ngân Hàng theo nghĩa hiện đại của nó đã phát triển từ thế kỷ 14 tại các thành phố giàu có của Ý thời Phục hưng nhưng trong nhiều cách là một sự tiếp nối của những ý tưởng và khái niệm của tín dụng và cho vay bắt nguồn từ thế giới cổ đại.

Trong lịch sử hình thành ngân hàng Việt Nam , một số triều đại Ngân Hàng đã đóng một vai trò trung tâm trong nhiều thế kỷ.

Lịch sử ra đời của ngân hàng

Những mốc son lịch sử của ngành Ngân hàng | Sự kiện

Lịch sử ra đời của ngân hàng

  • Khoảng 3500 TCN, xuất hiện việc ký gửi các vật phẩm cá nhân cho các dòng temple ở Tây Âu
  • Đến thời kỳ văn minh Hy Lạp, khoảng thế kỷ VI TCN, xuất hiện hoạt động gửi, nhận, ký gửi tiền cho vay ⇒ hoạt động ngân hàng đã trở nên rõ nét.
  • 1609 Hà Lan thành lập ngân hàng Amsterdam – khởi điểm cho ngân hàng kỷ nguyên hiện đại

Có thể nói, lịch sử ra đời của Ngân Hàng đã có sự phát triển qua các thời kỳ: từ thời Cổ Hy Lạp, thời La Mã, Thời trung cổ Thiên Chúa giáo và thời kỳ cận đại

Sơ lược quá trình thành lập và phát triển

Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và hoạt độngchủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa của Pháp ở Việt Nam.

Trong suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng đều do Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng Đông Dương.

Thực chất, Ngân Hàng Đông Dương hoạt động với tư cách là một Ngân hàng phát hành Trung ương, đồng thời là một ngân hàng kinh doanh đa năng bao gồm các nghiệp vụ ngân hàng thương mại và nghiệp vụ đầu tư.

Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâmcủa chính quyền cách mạng là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụ quan trọng của chính quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nhiệm vụ này dần trở thành hiện thực khi bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam ngày một tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường, vùng giải phóng không ngừng được mở rộng.

Sự chuyển biến của cục diện cách mạng đòi hỏi công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới.

Trên cơ sở chủ trương chính sách mới về tài chính- kinh tế mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 02/1951) đề ra, ngày 6 tháng 5 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam với các nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ, quản lý Kho bạc nhà nước.

Sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là một bước ngoặt lịch sử, là kết quả nối tiếp của quá trình đấu tranh xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, đánh dấu bước phát triển mới, thay đổi về chất trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ở nước ta.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1955-1975), hoạt động của Ngân Hàng Quốc gia tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý kinh tế XHCN;

Xây dựng và hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt.

Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).

Thời kỳ 1975-1985 là giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện thanh lý hệ thống Ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam; thu hồi tiền cũ ở cả hai miền Nam- Bắc;

Phát hành các loại tiền mới của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường.

Tháng 3/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 53/HĐBT với định hướng cơ bản là chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh. Tháng 5/1990,Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính.

Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân Hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp.

Trong đó, The bank Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, The bank và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ Ngân Hàng trong khuôn khổ pháp luật.

Từ năm 1990 đến nay, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện theo quy định của Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2003).

Luật Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010 và các nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN (Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 02/11/1998, Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008, Nghị định số 156/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013).

Khái quát lịch sử ngân hàng Việt Nam qua các thời kỳ

Hoạt động tài chính, tiền tệ thời kỳ 1945 – 1954

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngay từ những ngày đầu, chính quyền non trẻ của giai cấp công nông đã phải ứng phó với những thách thức lớn: vừa giải quyết những vấn đề cấp bách của đời sống nhân dân, củng cố và tăng cường thực lực của chính quyền.

Tháng 12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, toàn quốc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

Trong khói lửa chiến tranh, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhanh chóng thiết lập được một nền tiền tệ độc lập, tự chủ, tạo thế đứng vững chắc trên mặt trận tài chính – tiền tệ, sử dụng tiền tệ làm công cụ phục vụ đắc lực công cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Đặc biệt, sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ngày 6/5/1951 là bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển hệ thống tiền tệ – ngân hàng Việt Nam.

Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này đã góp phần rất quan trọng củng cố hệ thống tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước, phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.

Giai đoạn 1945 – 1951

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tình hình tài chính – tiền tệ của chính quyền cách mạng gặp vô vàn khó khăn:

Kho bạc chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó một nửa là tiền rách;

Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản thực dân và luôn tìm cách phá hoại ta về tài chính, tiền tệ; các nguồn thu ngân sách quá ít ỏi so với nhu cầu chi tiêu của chính quyền…

Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu gọi nhân dân quyên góp tài chính dưới các hình thức như “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng”, đồng thời gấp rút chuẩn bị phát hành tiền.

Để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế kháng chiến, Chính phủ cho thành lập 3 khu vực tiền tệ và cho phép phát hành các đồng tiền khu vực.

Nhiều biện pháp đã được áp dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách, như: phát hành Công phiếu kháng chiến, Công trái quốc gia…

Ngày 3/2/1947, Nha tín dụng sản xuất, tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta được thành lập với nhiệm vụ giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, hạn chế cho vay nặng lãi ở nông thôn, làm hậu thuẫn cho chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể.

Thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam

Lịch sử ngân hàng Việt Nam:

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (tháng 2/1951) đề ra chủ trương, chính sách mới về kinh tế – tài chính, trong đó chỉ rõ: Chính sách tài chính phải kết hợp chặt chẽ với chính sách kinh tế;

Thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành đồng bạc mới để ổn định tiền tệ, cải tiến chế độ tín dụng.

Thực hiện chủ trương đó, ngày 6/5/1951, tại hang Bòng thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15-SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.

Với những nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước.

Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gồm Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng liên khu và ngân hàng tỉnh, thành phố. Trụ sở đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia đặt tại xã Đầm Hồng, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

Hoạt động ngân hàng thời kỳ 1954 – 1975

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954), 2 miền Nam – Bắc tạm thời bị chia cắt. Đảng ta xác định đường lối chung của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn này là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược:

Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam từng bước được hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng.

Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia trong thời kỳ này tập trung vào việc tăng cường quản lý, điều hoà lưu thông tiền tệ theo các nguyên tắc quản lý kinh tế, tài chính XHCN;

Xây dựng và hoàn thiện chế độ tín dụng hướng vào phục vụ phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể; mở rộng phạm vi và cải tiến nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt.

Cũng trong thời kỳ này, thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ngân hàng Nhà nước đã thành lập các đơn vị đặc biệt mang bí số B29 và N2683 với nhiệm vụ nhận và vận chuyển các khoản viện trợ của bè bạn trên thế giới từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam, phục vụ cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Lịch sử ngân hàng Việt Nam Giai đoạn 1954 – 1964

Hòa bình lập lại, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam tiến hành thu hồi tiền địch ở vùng mới giải phóng, thiết lập thị trường tiền tệ thống nhất trên Miền Bắc. Mạng lưới ngân hàng được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã; đội ngũ cán bộ được tăng cường, nâng cao trình độ. Ngày 26/10/1961,

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Hoạt động tín dụng được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế, phục vụ yêu cầu hợp tác hóa và đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát triển kinh tế quốc doanh.

Ngân hàng Nhà nước đã có nhiều cải tiến trong công tác thanh toán không dùng tiền mặt, mở rộng quan hệ thanh toán đến hầu hết các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan của nhà nước; tập trung quản lý và đẩy mạnh các nguồn thu ngoại hối để đáp ứng nhu cầu kiến thiết nước nhà.

Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam và Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động.

Đến cuối năm 1964, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với 265 ngân hàng tại 41 nước trên thế giới.

Giai đoạn 1965 – 1975

Đây là thời kỳ Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, chiến sự diễn ra rất ác liệt, mọi hoạt động của Ngân hàng Nhà nước phải chuyển hướng để phù hợp với hoàn cảnh thời chiến.

NH Nhà nước đã cải tiến và mở rộng các quan hệ tín dụng, thanh toán, quản lý tiền mặt, quản lý quỹ ngân sách nhà nước, giúp các xí nghiệp sơ tán và phân tán sản xuất, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh; tiếp tục đẩy mạnh tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể.

Tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong thời kỳ này đạt bình quân 85,5% tổng mức chu chuyển tiền tệ qua quỹ ngân hàng.

NH Nhà nước đã cử hàng trăm cán bộ vào giúp Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam xây dựng nền tài chính – tiền tệ, đấu tranh với địch trên mặt trận kinh tế, tài chính; triển khai phong trào tiết kiệm, góp sức người, sức của xây dựng hậu phương, chi viện tiền tuyến.

Ngân hàng thành lập đầu tiên ở Việt Nam

Ngân hàng Đông Dương (Banque de I’Indochine, viết tắt là BIC) được thành lập ngày 21/01/1875, trụ sở chính đặt ở Paris, Pháp và một chi nhánh ở Sài Gòn. Năm 1885, mở thêm chi nhánh ở Trung kì và Bắc kì.

Năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, BIC mở chi nhánh hoạt động ở khắp Đông Dương và mở thêm chi nhánh ở Ấn Độ.

Năm 1898, mở rộng phạm vi hoạt động sang Trung Quốc và Thái Lan. Bộ Tài chính Pháp tán thành chủ trương trên và tăng vốn pháp định của ngân hàng lên 24 triệu franc (đơn vị tiền tệ của Pháp).

Theo chính sách đó năm 1899, NH Đông Dương mở chi nhánh đầu tiên ở Hong Kong, năm sau mở tiếp ở Thượng Hải và Hán Khẩu, Quảng Châu (1902), ở Thiên Tân và Bắc Kinh (1907) và Mông Tự(1913).

Chính quyền Pháp có ý định xây dựng Ngân hàng Đông Dương thành một NH phát hành, cho vay và chiết khấu có đặc quyền trong 20 năm, với một đặc quyền hơn hẳn các NH thuộc địa khác: quyền phát hành đồng bạc Đông Dương.

Vào thời điểm đó Nam kỳ tuy đã trở thành thuộc địa của Pháp, vẫn sử dụng đồng tiền cổ truyền của người Việt, cùng đồng bạc Mexico từ trước khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha mở cuộc xâm lược Đông Dương.

NH Đông Dương ra đời với nhiệm vụ phát hành đồng bạc Đông Dương để thay thế các loại tiền cũ và để người Pháp điều khiển kinh tế xứ thuộc địa mới này. NH Đông Dương tham gia một số hoạt động quan trọng ở Trung Quốc trong đó có việc xuất ngân cho vay khoản tiền xây dựng đường sắt Quảng Châu – Hán Khẩu.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, NH Đông Dương đã trở thành một công cụ tài chính mạnh của Pháp với khoảng 20 chi nhánh, trong đó có sáu ở Đông Dương và sáu ở Trung Quốc, số còn lại ở các thuộc địa Pháp tại Châu Á.

Sau năm 1953, Ngân hàng Đông Dương ở Việt Nam bị giải thể. Nhiệm vụ phát hành giấy bạc được chuyển cho Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miến, Lào (Institut d’Emission des Etats du Cambodge,

du Laos et du Viet-Nam) kể từ năm 1951 rồi giao lại cho Ngân hàng quốc gia Việt Nam, tức ngân hàng trung ương của Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1955.

Phần kinh doanh thì chia cho Ngân hàng Việt Nam Thương Tín (thành lập năm 1956) và hậu thân của Ngân hàng Đông Dương là Ngân hàng Pháp Á.

Tuy vắng mặt ở Việt Nam sau năm 1953, Ngân hàng Đông Dương tái hoạt động vào năm 1958 ở những nơi khác ở Á Châu. Năm 1975 thì nhập với Banque de Suez et de L’Union des Mines với tên mới: Banque Indosuez và đến năm 2001 đến nay thì nhập vào Alliance Banking Group, hoạt động chính ở Malaysia.

Ngân hàng đầu tiên của người Việt

Cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 hầu hết các công ty, tổ chức lớn trong nền kinh tế Việt Nam đều là của người Pháp và người Hoa. Do vậy, vị trí của người Việt trong chính quyền kém hơn hẳn cộng đồng Pháp, Ấn, Hoa vì do lâu nay chỉ làm khách hàng nhỏ của họ.

Trong xã hội, sức mạnh kinh tế trong xã hội của người Việt tập trung vào địa chủ, tư sản..Họ mới có ảnh hưởng chính trị ở Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ.

Những doanh nhân Việt Nam đầu tiên bước vào thương trường ấy đã vận động một phong trào làm ăn của người Việt. Phong trào đó gọi là Minh Tân, khởi đầu từ đầu thế kỷ 20.

Từ phong trào này, bên cạnh các thương hiệu hàng hóa của người Việt xuất hiện, cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa của người Pháp, người Hoa, người Ấn trên thị trường.Hơn nữa, họ còn xuất khẩu đi các nước trên thế giới.

Công ty tín dụng An Nam, ngân hàng đầu tiên của người Việt, với hai cổ đông lớn là cụ Lê Văn Gồng, cụTrần Trinh Trạch (tức Hội đồng Trạch – cha công tử Bạc Liêu) được thành lập.

Ngày 8/11/1926, một số nhà tư sản, địa chủ nhà báo và trí thức đã họp tại trụ sở của Hội kỹ nghệ và doanh nhân An Nam tại số 76 rue La Grandière (nay là đường Lý Tự Trọng Sài Gòn) để thành lập Công ty Tín dụng An Nam (ngân hàng đầu tiên của người Việt).

Tại buổi họp ban đầu, điều lệ của công ty do cụ Lê Văn Gồng soạn thảo đã xem xét, bàn luận và chấp thuận.

Trong số những người sáng lập có các cụ: Kỹ sư Lưu Văn Lang, nghị viên hội đồng thành phố Nguyễn Tấn Văn, chủ tiệm “Au Tisseur” Nguyễn Khắc Trương, vận động tiếp thị cho công ty (promoteur de la sociéte) Nguyễn Văn Gồng, chủ “Garage Cental” Nguyễn Văn Kiêu, nghiệp chủ Nguyễn Văn Thơm, doanh nhân Cần Thơ Lê Kim Danh…

Điều lệ công ty: Số vốn ban đầu là 250.000 đồng từ 10.000 cổ phần, mỗi cổ phần 25 đồng. Ngày 1/3/1927, công ty chính thức mời gọi công chúng mua cổ phần qua tài khoản ngân hàng Đông Dương với khẩu hiệu “hãy coi đây là công trình thuộc tất cả mọi người Việt”.

Ngày 24/8/1927, ở đại hội lần thứ 2, công ty chính thức hoạt động với trụ sở ở số 54 Pellerin (nay là Pasteur). Lần này qua sự vận động của ông Lê Văn Gồng, ông Trần Trinh Trạch, tức “Hội đồng Trạch”, một địa chủ giàu có ở Bạc Liêu, đã tham gia góp vốn và vào hội đồng quản trị.

Đây là sự tham gia có ý nghĩa vì qua đó công ty có triển vọng hoạt động bền vững, lâu dài nhằm đạt được sự tin tưởng của khách hàng.

Lúc này, Hội đồng quản trị công ty gồm có các ông: Trần Trinh Trạch – Chủ tịch, Nguyễn Văn Tấn – phó chủ tịch, Nguyễn Văn Của, đại diện quản lý. Ban quản lý gồm các ông: Lê Văn Gồng – Giám đốc, Trương Tấn Vị (điền chủ Châu Đốc), Nguyễn Tấn Văn (nghị viên hội đồng thành phố và nghiệp chủ ở Sài Gòn)…

Theo báo cáo hoạt động của công ty, tính đến tháng 6/1928, sau 10 tháng đầu tiên hoạt động, công ty đã lời 18.192 đồng. Tiền ký gửi của khách hàng được lãi 4% và tiền gửi tiết kiệm mỗi năm là 5%.

Đến đầu năm 1931 thành phần lãnh đạo công ty gồm có, chủ tịch hàm (danh dự) ông Huỳnh Đức Khiêm (chủ đất Gò Công), phó chủ tịch hàm (danh dự) ông Trần Trinh Trạch, chủ tịch hội đồng ông Trương Tấn Vị, giám đốc điều hành Lê Văn Gồng…Công ty tín dụng An Nam hoạt động rất tốt. Slogan của công ty là: “Làm vẻ vang cho xứ sở mình”.

Đầu năm 1939, công ty mua lại tòa nhà ở góc đường Charner và Ohier (cạnh Tòa hòa giải) của công ty Pháp Sociéte Marseillaise d’Outre-Mer.

Số tiền bỏ ra là 120.000 đồng, trong đó 78.000 đồng là mua nhà và đất, 41.500 đồng là dùng tu bổ và trang bị lại tòa nhà. Công ty sau đó dời trụ sở từ đường Pellerin đến trụ sở 117 đường Charner. Tòa nhà mới này là trụ sở của Công ty An Nam bảo hiểm xe hơi.
Sau 12 năm hoạt động, dưới sự điều hành của ông Lê Văn Gồng, từ lúc thành lập năm 1927 với số vốn 250.000 đồng, công ty đã tăng trưởng hơn 5 lần và có hơn 1 triều đồng trong tài khoản khách hàng. Từ năm 1942-1943, công ty không còn 2 trụ cột là ông Trần Trinh Trạch (mất năm 1942) và ông Lê Văn Gồng.

Lúc này Nhật Bản đã vào Đông Dương. Hoạt động tín dụng của công ty cũng không thuận lợi như trước. Chưa có tư liệu cho biết công ty hoạt động ra sao sau thời gian năm 1943.

Top 7 Ngân hàng lớn nhất Việt Nam hiện nay

1/ Ngân hàng Vietcombank

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (tên giao dịch Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam), còn được gọi là “Vietcombank“, là một trong những ngân hàng lớn nhất Việt Nam trên thị trường chứng khoán đất nước ta tính theo vốn hóa.

Ngân hàng được thành lập ngày 01/04/1963 với tư cách là một ngân hàng thương mại nhà nước. Tên trước đây của ngân hàng này là Ngân hàng Ngoại thương đất nước ta.

Vietcombank với tầm nhìn biến thành ngân hàng số 1 tại nước ta và trở thành một trong 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á, một trong 300 tập đoàn tài chính tài chính lớn nhất toàn cầu và được quản trị theo các thông lệ quốc tế tốt nhất.

Vietcombank đã bước qua giai đoạn định hình phát triển, giờ đây Vietcombank định hướng tiếp tục duy trì vị thế ngân hàng số 1 tại nước ta và từng bước nâng cao vị thế trong khu vực.

Bên cạnh hoạt động bán lẻ nổi trội, mục đích nắm 2020 Vietcombank hướng đến hơn nữa đó chính là hoạt động bán buôn.

2/ Ngân hàng BIDV

BIDV có tên gọi đầy đủ là Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tư và phát triển thành lập vào năm 1957. Sau nhiều năm phát triển, BIDV trở thành một trong 10 ngân hàng tốt nhất Việt Nam hiện nay!

 

Bên cạnh đấy, BIDV còn nằm trong Top 30 ngân hàng lớn nhất Đông Nam Á. Tạp chí The Banker còn thứ hạng BIDV nằm trong 1.000 ngân hàng tốt nhất thế giới.

đấy là những công nhận vô cùng quý giá dành cho sự nỗ lực của ngân hàng BIDV trong các hoạt động của mình.

3/ Ngân hàng AgriBank

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đất nước ta ( AgriBank) chính thức đi vào hoạt động từ năm 1988. trong quá trình hình thành và phát triển, AgriBank vinh dự nằm trong Top 10 công ty lớn nhất vào thời điểm hiện tại.

 

 

Đến nay, AgriBank có tổng tài sản đã trên hơn 1.000.000 tỷ đồng, hơn 4.000 nhân viên, hơn 2.300 chi nhánh/phòng giao dịch…Nhằm thuyết phục nhu cầu của khách hàng, AgriBank cung cấp nhiều loại các sản phẩm, dịch vụ như thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, gửi tiết kiệm, vay thế chấp…

4/ Techcombank – Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam

Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương nước ta (Techcombank) được thành lập vào năm 1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng.

 

Về quy mô, hiện tại Techcombank có hơn 315 chi nhánh, phòng giao dịch và 12.229 máy ATM trên khắp 63 tỉnh thành ở cả nước.

5/ Ngân hàng VietinBank

Ngân hàng TMCP Công Thương nước ta, tên giao dịch VietinBank, là một ngân hàng thương mại Nhà nước Việt Nam. Được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước nước ta.

Tên giao dịch ban đầu là IncomBank. VietinBank hiện có 1 Sở giao dịch, 150 Chi nhánh và trên 1000 Phòng giao dịch/ Quỹ tiết kiệm trải rộng toàn quốc.

 

Theo thông tin của tổ chứchiện nay VietinBank có quan hệ đại lý với trên 900 ngân hàng, định chế tài chính tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.

Với bề dầy hơn 30 năm hoạt động, Vietinbank đang là một trong những sự chọn lựa tin cậy của khách hàng khi diao dịch các hoạt động liên quan đến dòng tiền.

Tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính đều có thể thực hiện tại đây. Nhiều sản phẩm bán hàng mang tính sáng tạo cao giúp mang đến sự cải tạo và lợi ích to lớn cửa khách hàng.

6/ Ngân hàng SacomBank

SacomBank cũng nằm trong Top 7 ngân hàng lớn nhất Việt Nam tính tới 2021. Ngân hàng SacomBank đi vào hoạt động từ năm 1991, không những tạo được ấn tượng nội địa mà còn ghi điểm với những người bạn quốc tế.

Ngân hàng SacomBank sở hữu mạng lưới gần 600 điểm giao dịch, 18.800 nhân viên giúp phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Với quy mô rộng rãi, dịch vụ chất lượng, SacomBank nhanh chóng được khách hàng tin tưởng và chọn lựa.

7/ Ngân hàng VPBank

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (trước đây là Ngân hàng TMCP Các doanh nghiệp Ngoài Quốc Doanh, viết tắt VPBank) là một ngân hàng ở Việt Nam được thành lập ngày 12 tháng 08 năm 1993.

Sau 27 năm hoạt động, VPBank đã nâng vốn điều lệ lên 6.347 tỷ đồng, phát triển mạng lưới lên hơn 200 điểm giao dịch, với đội ngũ trên 7.000 cán bộ nhân viên.

 

VPBank là thành viên của nhóm 12 ngân hàng hàng đầu đất nước ta (G12).

VPBank đã đặt mục đích kế hoạch trong giai đoạn 2018-2022 với tham vọng biến thành Ngân hàng thân thiện nhất với người dùng nhờ ứng dụng công nghệ và lọt vào nhóm 3 Ngân hàng giá trị nhất đất nước ta.

Với sứ mệnh của mình là cung cấp lợi ích cao nhất cho khách hàng, chú ý chú trọng đến quyền lợi người lao động và cổ đông, xây dựng văn hóa doanh nghiệp vững mạnh và giúp sức hiệu quả vào sự phát triển của cộng đồng.

VPBank hiện nay là một địa chỉ giao dịch nhận được sự tín nhiệm cao của khách hàng khu vực miền Nam.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *